Nghiên cứu và đề xuất giải pháp ứng phó với các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp tại thị trường Hoa Kỳ

Tóm tắt:

Bài báo nghiên cứu tổng quan về quy định pháp luật, quy trình điều tra và thực tiễn chống bán phá giá, chống trợ cấp tại Hoa Kỳ; quy định của Việt Nam và thực tiễn ứng phó với các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp tại Hoa Kỳ của Việt Nam, đánh giá hiệu quả và các bài học kinh nghiệm; kinh nghiệm một số quốc gia trong ứng phó các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp của Hoa Kỳ và bài học rút ra cho Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả ứng phó các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp tại thị trường Hoa Kỳ.

Từ khóa: chống bán phá giá, chống trợ cấp, thị trường Hoa Kỳ, kinh tế thị trường, DOC, hàng hoá xuất khẩu.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã có những bước phát triển vượt bậc, đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam.

Tuy nhiên, đi kèm với sự tăng trưởng mạnh mẽ về kim ngạch và thặng dương mại là sự gia tăng đáng kể các rào cản kỹ thuật, đặc biệt là các biện pháp phòng vệ thương mại (PVTM).

Hiện nay, Hoa Kỳ là quốc gia đứng đầu thế giới về việc khởi xướng điều tra và áp dụng các biện pháp PVTM đối với hàng hóa nhập khẩu. Với vị thế là đối tác có thặng dư thương mại lớn thứ ba với Hoa Kỳ, Việt Nam đang trở thành tâm điểm của các vụ điều tra chống bán phá giá (CBPG) và chống trợ cấp (CTC). Tính đến hết năm 2024, Hoa Kỳ đã điều tra tổng cộng 77 vụ việc đối với hàng hóa Việt Nam, chiếm hơn một phần tư tổng số vụ việc mà các nước trên thế giới điều tra chúng ta. Đáng chú ý, các cuộc điều tra từ phía Hoa Kỳ không còn chỉ tập trung vào các mặt hàng nông - thủy sản truyền thống như tôm, cá tra hay mật ong, mà đã mở rộng sang các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có giá trị gia tăng cao như thép, gỗ, và cả những lĩnh vực mới nổi như năng lượng tái tạo. Sự thay đổi trong quy định pháp luật của Hoa Kỳ, cùng với việc chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, đã tạo ra những thách thức pháp lý vô cùng phức tạp, gây áp lực lớn lên chi phí và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt.

Thực tiễn này đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước cần có cái nhìn thấu đáo và toàn diện về các xu hướng điều tra mới của Hoa Kỳ. Việc nhận diện đúng các rào cản, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước và xây dựng một chiến lược ứng phó đồng bộ là yêu cầu cấp bách. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp ứng phó các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp tại thị trường Hoa Kỳ là hết sức cần thiết để bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp xuất khẩu, mà còn là yếu tố then chốt để duy trì sự phát triển bền vững của quan hệ thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ trong tương lai

2. Thực tiễn công tác điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp của Hoa Kỳ

2.1 Thực tiễn công tác điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là nước nhập khẩu nhiều nhất trên thế giới. Sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu cũng gây áp lực cho các ngành sản xuất nội địa của Hoa Kỳ, buộc chính quyền Hoa Kỳ phải tìm kiếm các giải pháp để hạn chế nhập khẩu, ví dụ như điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM (CBPG; CTC; chống lẩn tránh thuế CBPG, CTC; tự vệ), Mục 301 và Mục 232 của Đạo luật thương mại, Đạo luật chống lao động cưỡng bức và gần đây nhất là thuế đối ứng....

Một trong các công cụ được chính quyền Hoa Kỳ thường xuyên sử dụng thời gian qua là các biện pháp phòng vệ thương mại. Theo thống kê của WTO, Hoa Kỳ hiện là nước đứng đầu trên thế giới về việc điều tra và áp dụng các biện pháp PVTM để bảo hộ ngành sản xuất nội địa.

Về nguyên tắc, các biện pháp PVTM, bao gồm chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, là các biện pháp được Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho phép các nước thành viên áp dụng để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh không công bằng hoặc sự gia tăng lớn, không lường trước được của hàng nhập khẩu. Biện pháp PVTM có thể được áp dụng dưới hình thức thuế nhập khẩu bổ sung sau khi cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu xác định thông qua một cuộc điều tra rằng các điều kiện áp dụng biện pháp theo quy định của WTO đã được thỏa mãn. Để đảm bảo hiệu quả của các biện pháp PVTM đang áp dụng, các nước cũng tiến hành điều tra và áp dụng các biện pháp chống lẩn tránh biện pháp PVTM.

 Với Việt Nam

Năm 2024, Việt Nam nằm trong nhóm có thặng dư thương mại đáng kể với Hoa Kỳ (đứng thứ 03 chỉ sau Trung Quốc và Mê-hi-cô). Số liệu trên cho thấy hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng lớn, sức cạnh tranh tốt so với các nước trên thế giới khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ là nước điều tra, áp dụng nhiều biện pháp PVTM nhất với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Đến nay, Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra 77 vụ trên tổng số 297 vụ việc nước ngoài điều tra với ta (chiếm gần 26%), gồm: 35 vụ việc CBPG, 16 vụ việc CTC, 23 vụ việc chống lẩn tránh thuế PVTM và 03 vụ việc tự vệ.

Số vụ việc PVTM do Hoa Kỳ điều tra với Việt Nam

Thời gian

Trước năm 2001[1]

2002-2016

2017[2]-T9/2025

Số vụ việc

0

19

58

Thực tiễn các vụ việc điều tra PVTM của Hoa Kỳ đối với Việt Nam có một số đặc điểm, xu hướng đáng lưu ý như sau:

- Sản phẩm bị điều tra ngày càng đa dạng: Từ các sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu lớn như gỗ, pin năng lượng mặt trời, thép, nhôm, thủy sản (tôm, cá tra); lốp xe… đến những sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu trung bình và nhỏ như túi giấy, mật ong, đĩa giấy...

- Tăng nhanh về số lượng vụ việc điều tra chống lẩn tránh: Trước khi sửa đổi quy định về điều tra chống lẩn tránh vào tháng 9 năm 2021, số lượng các vụ việc điều tra chống lẩn tránh thuế PVTM mà Hoa Kỳ khởi xướng với Việt Nam mới là 09 vụ việc. Từ tháng 9 năm 2021 đến nay, Hoa Kỳ khởi xướng 14/40 vụ việc điều tra lẩn tránh với Việt Nam (chiếm 35% tổng số vụ việc điều tra lẩn tránh thuế của nước ngoài với Việt Nam từ trước tới nay). Các vụ việc này chủ yếu tập trung vào sản phẩm xuất khẩu sử dụng nguyên liệu có xuất xứ Trung Quốc.

- Thường xuyên điều tra “kép”, điều tra nhiều biện pháp với cùng một sản phẩm: Ví dụ sản phẩm lốp xe bị đồng thời áp thuế CBPG và CTC; pin năng lượng mặt trời bị áp thuế tự vệ, thuế chống lẩn tránh thuế CBPG và CTC; nhôm bị áp thuế chống lẩn tránh thuế CBPG và CTC và bị điều tra CBPG; tôm nước ấm đông lạnh bị áp thuế CBPG và thuế CTC.

- Thường xuyên điều tra “chùm”: Trong bối cảnh cơ cấu sản xuất của ta khá tương đồng với Trung Quốc và nước này cũng đứng thứ 4 về đầu tư trực tiếp vào Việt Nam (năm 2023) thì việc bị “vạ lây” là điều không thể tránh khỏi. Việc tham gia vào các chuỗi cung ứng khu vực thông qua tham gia vào nhiều Hiệp định Thương mại tự do (FTA) khiến Việt Nam trở thành quốc gia thường xuyên bị Hoa Kỳ điều tra chung với một số nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ… cũng là các quốc gia có kim ngạch xuất khẩu lớn, thường xuyên bị điều tra PVTM.

- Phạm vi điều tra ngày càng mở rộng: Bao gồm cả các nội dung mới như điều tra xem xét phạm vi sản phẩm, điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM, điều tra định giá thấp tiền tệ trong khuôn khổ điều tra CTC, điều tra trợ cấp xuyên quốc gia... Ví dụ, trong vụ việc điều tra CTC với lốp xe của Việt Nam khởi xướng năm 2020, lần đầu tiên Hoa Kỳ cho rằng việc Chính phủ định giá thấp đồng tiền là một loại trợ cấp và đã đánh thuế gần 2% vì lý do này, dẫn đến tổng thuế CTC lên đến gần 8%.

- Xu hướng điều tra khắt khe hơn: Yêu cầu Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam bổ sung nhiều thông tin, chặt chẽ về gia hạn thời hạn nộp bản trả lời câu hỏi, thay đổi tiền lệ trong việc xác định xuất xứ...

- Thời gian điều tra kéo dài, đặc biệt với các vụ việc điều tra chống lẩn tránh: Ví dụ vụ việc Hoa Kỳ điều tra chống lẩn tránh đối với gỗ dán cứng từ Việt Nam kéo dài hơn 3 năm do được gia hạn nhiều lần. Việc gia hạn này sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp của ta do chưa biết được doanh nghiệp nào sẽ được tham gia cơ chế tự xác nhận để loại trừ khỏi biện pháp cho các lô hàng chưa thanh khoản và các lô hàng tương lai.

- Mức thuế PVTM bị đẩy lên cao do vấn đề kinh tế thị trường (KTTT):

Do Hoa Kỳ chưa công nhận Việt Nam là nền KTTT nên sử dụng chi phí của một nước thứ ba (nước thay thế) để tính giá trị thông thường trong các vụ việc CBPG, khiến mức thuế CBPG tăng cao, không phản ánh đúng thực trạng sản xuất, xuất khẩu của ta. Bên cạnh đó, việc coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường cho phép Hoa Kỳ áp dụng thuế suất toàn quốc - là mức thuế dành cho các doanh nghiệp không hợp tác hoặc không chứng minh được họ không chịu sự kiểm soát của Chính phủ. Thuế suất toàn quốc thường được tính toán dựa trên dữ liệu sẵn có nên bị đẩy lên rất cao, tương đương lệnh cấm và được duy trì trong tất cả các đợt rà soát, gây cản trở cho việc xem xét dỡ bỏ lệnh áp thuế của Hoa Kỳ. Việc Hoa Kỳ thường xuyên cập nhật danh sách nước thay thế… càng làm cho kết quả vụ việc trở nên khó đự đoán hơn. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng sử dụng ngưỡng chuẩn (benchmark) của nước thay thế khi tính toán biên độ trợ cấp, khiến biên độ trợ cấp tăng cao, hay khi xem xét các yếu tố đánh giá lẩn tránh biện pháp PVTM, khiến khả năng doanh nghiệp ta bị kết luận có lẩn tránh cao hơn.

2.2. Đánh giá công tác ứng phó với các vụ việc PVTM của Hoa Kỳ

Nhìn chung, xu hướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp của Hoa Kỳ ngày càng siết chặt. Nhiều quy định và thực tiễn đang có tác động lớn đối với các nước đang phát triển và xuất khẩu lớn sang Hoa Kỳ như Việt Nam. Một số quy định mới của Hoa Kỳ còn gây nhiều tranh cãi so với nghĩa vụ WTO và gây bất lợi cho ta.

Mặc dù vậy, Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương - cơ quan đầu mối hỗ trợ doanh nghiệp xử lý các vụ việc PVTM của nước ngoài đã triển khai hàng loạt biện pháp nhằm giúp doanh nghiệp ứng phó với các vụ việc PVTM do nước ngoài khởi xướng điều tra và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế như: (i) cảnh báo sớm các mặt hàng có nguy cơ bị điều tra PVTM, chống lẩn tránh để các cơ quan chức năng, hiệp hội, doanh nghiệp phối hợp theo dõi và nâng cao nhận thức cho cộng đồng doanh nghiệp; (ii) chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng, hiệp hội, ngành hàng xử lý các vụ việc phát sinh: hướng dẫn doanh nghiệp tuân thủ các quy định điều tra và xây dựng phương án ứng phó; trả lời các bản câu hỏi và tham gia các cuộc thẩm tra dành cho Chính phủ Việt Nam (gồm điều tra trợ cấp hoặc điều tra CBPG mà trong đó Chính phủ Việt Nam bị cáo buộc là biến thể của nền kinh tế phi thị trường, với tư cách là một bên bị điều tra); xây dựng lập luận, phản biện, tham vấn với cơ quan điều tra nước ngoài khi hoạt động và kết luận điều tra chưa phù hợp với các quy định quốc tế, pháp luật của nước sở tại; (iii) báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho chỉ đạo về các vấn đề vượt thẩm quyền, liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của các Bộ, ngành khác; (iv) đưa vụ việc ra cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)…

Với những hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình xử lý các vụ việc điều tra PVTM của Hoa Kỳ đã đem lại những kết quả tích cực: (i) Thời gian qua, với các nỗ lực của chính phủ, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về PVTM đang dần được nâng cao. Một số ngành, một số doanh nghiệp đã xác định được điều tra PVTM là hoạt động bình thường trong thương mại quốc tế, do đó chủ động trong việc xử lý, ứng phó với các vụ việc điều tra PVTM của nước ngoài; (ii) Một số vụ việc đã thành công trong việc chứng minh doanh nghiệp không bán phá giá hay Chính phủ không trợ cấp để tạo lợi thế bất bình đẳng cho doanh nghiệp xuất khẩu. Nhờ đó, các doanh nghiệp xuất khẩu không bị áp thuế PVTM hoặc bị áp thuế ở mức thấp so với cáo buộc ban đầu hoặc so với các nước khác cùng bị áp thuế, góp phần giữ vững và mở rộng thị trường xuất khẩu. Một số kết quả cụ thể như Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp thấp đối với sản phẩm lốp ô tô và xe tải hạng nhẹ, khay đúc bằng sợi nhập khẩu từ Việt Nam; hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra-ba sa và tôm nước ấm sang Hoa Kỳ đang được hưởng thuế chống bán phá giá 0% và thuế chống trợ cấp thấp (tôm nước ấm)…

Tổng kết lại, công tác ứng phó với các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp của Việt Nam đã đạt được những kết quả đạt sau:

  • Hoàn thiện thể chế: Việt Nam đã xây dựng được khung pháp lý tương đối đầy đủ với Luật Quản lý ngoại thương và các thông tư hướng dẫn về PVTM.
  • Chủ động cảnh báo sớm: Bộ Công Thương đã thiết lập hệ thống cảnh báo sớm giúp doanh nghiệp nhận diện nguy cơ bị kiện dựa trên biến động của các chỉ số xuất khẩu.
  • Năng lực doanh nghiệp được nâng cao: Nhiều ngành hàng lớn (tôm, cá tra) đã quen thuộc với các kỳ rà soát của Hoa Kỳ và đạt được mức thuế 0% nhờ hệ thống kế toán minh bạch.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn gặp phải một số khó khăn như:

  • Rủi ro từ nền kinh tế phi thị trường: Việc chưa được Hoa Kỳ công nhận quy chế kinh tế thị trường khiến doanh nghiệp Việt luôn ở thế yếu khi bị tính toán mức thuế dựa trên nước thay thế.
  • Nguồn lực tài chính: Chi phí theo đuổi các vụ kiện tại Hoa Kỳ cực kỳ đắt đỏ, là gánh nặng lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs).
  • Nhân lực chuyên sâu: Việt Nam vẫn đang thiếu hụt đội ngũ luật sư và chuyên gia có khả năng tranh tụng trực tiếp bằng tiếng Anh và hiểu sâu sắc các kỹ thuật tính toán phức tạp của DOC.

3. Kinh nghiệm quốc tế trong ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ

Kinh nghiệm từ Trung Quốc:

Trung Quốc là quốc gia chịu nhiều cuộc điều tra phòng vệ thương mại (PVTM) nhất từ Hoa Kỳ. Kinh nghiệm của họ mang lại những bài học giá trị về sự phối hợp hệ thống:

  • Sự phối hợp "Tam giác sắt": Trung Quốc thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ (Bộ Thương mại), Hiệp hội ngành hàng và Doanh nghiệp. Khi một vụ kiện xảy ra, Hiệp hội sẽ đứng ra huy động nguồn lực pháp lý, trong khi Chính phủ thực hiện các biện pháp ngoại giao hỗ trợ.
  • Vận động hành lang (Lobbying): Doanh nghiệp Trung Quốc thường thuê các hãng luật hàng đầu tại Washington D.C. để tác động trực tiếp vào quá trình lập pháp và thực thi của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC).
  • Đa dạng hóa chuỗi cung ứng: Thay vì phụ thuộc vào một thị trường, họ chủ động dịch chuyển một phần sản xuất sang nước thứ ba để giảm bớt áp lực trực tiếp từ các lệnh trừng phạt thuế.

Kinh nghiệm từ Ấn Độ:

  • Hợp tác đầy đủ với cơ quan điều tra là chiến lược cốt lõi, thay vì tập trung vào việc phủ nhận cáo buộc, cách tiếp cận của Ấn Độ thường là kiểm soát kết quả thông qua hợp tác và quản trị dữ liệu.
  • Tránh bị áp dụng AFA là mục tiêu trọng tâm trong chiến lược ứng phó, Nhà nước và doanh nghiệp đều tập trung vào việc đảm bảo tuân thủ quy trình điều tra, hạn chế tối đa khả năng bị áp dụng các giả định bất lợi.
  • Vai trò của Nhà nước mang tính hỗ trợ chủ động nhưng không can thiệp sâu. Tuy nhiên, cách tiếp cận này mang tính thực dụng và linh hoạt, không đặt trọng tâm vào đối đầu pháp lý mà ưu tiên giảm thiểu rủi ro và duy trì khả năng tiếp cận thị trường.
  • Ngoại giao thương mại được sử dụng như một công cụ bổ trợ quan trọng. Bên cạnh việc hợp tác trong khuôn khổ điều tra, Ấn Độ tận dụng các kênh đối thoại song phương để trao đổi và làm rõ các vấn đề liên quan. Cách tiếp cận này giúp giảm áp lực trong một số trường hợp, đồng thời duy trì quan hệ thương mại ổn định với Hoa Kỳ.
  • Kết quả vụ việc mang tính phân hóa ở cấp doanh nghiệp, không đồng nhất ở cấp quốc gia.

Tổng thể, cách tiếp cận của Ấn Độ có thể được đặc trưng là “cooperative and compliance-driven”, trong đó trọng tâm là hợp tác, kiểm soát rủi ro và duy trì khả năng tiếp cận thị trường, thay vì theo đuổi các chiến lược đối đầu hoặc kiện tụng.

Kinh nghiệm từ Indonesia:

Indonesia từng gặp khó khăn trong vụ việc tháp gió do thiếu sự thống nhất về dữ liệu giữa các doanh nghiệp trong ngành. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc thống nhất hồ sơ kế toán và chiến thuật tranh tụng ngay từ giai đoạn đầu của vụ kiện.

4. Đề xuất giải pháp

Nhằm nâng cao hiệu quả ứng phó với các biện pháp PVTM của Hoa Kỳ trong thời gian tới, cơ quan quản lý cần tập trung vào các nhóm giải pháp sau:

4.1. Nhóm giải pháp về chính sách và ngoại giao

  • Đẩy mạnh vận động quy chế kinh tế thị trường: Tiếp tục ưu tiên đàm phán cấp cao để Hoa Kỳ sớm công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, giúp xóa bỏ các phương pháp tính thuế bất công.
  • Minh bạch hóa các chương trình hỗ trợ: Rà soát và điều chỉnh các chương trình ưu đãi thuế, tín dụng ở cả cấp trung ương và địa phương để đảm bảo không vi phạm các quy định về trợ cấp có thể đối kháng của WTO và Hoa Kỳ.

4.2. Nhóm giải pháp về kỹ thuật và hỗ trợ doanh nghiệp

  • Nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm: Tích hợp dữ liệu từ các hãng tin kinh tế lớn và dữ liệu hải quan quốc tế để dự báo chính xác hơn các xu hướng điều tra "chùm" hoặc điều tra lẩn tránh thuế.
  • Xây dựng Quỹ hỗ trợ pháp lý: Nghiên cứu cơ chế hình thành quỹ hỗ trợ (có sự đóng góp của doanh nghiệp và ngân sách) để giúp các ngành hàng thuê tư vấn quốc tế trong các vụ việc trọng điểm.

4.3. Nhóm giải pháp về đào tạo và quản lý

  • Phát triển đội ngũ chuyên gia nội địa: Tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về luật thương mại quốc tế và kỹ năng bóc tách chi phí sản xuất theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ.
  • Giám sát chặt chẽ gian lận xuất xứ: Tăng cường kiểm tra, hậu kiểm đối với các mặt hàng có nguyên liệu nhập khẩu từ các nước đang bị Hoa Kỳ áp thuế cao nhằm ngăn chặn rủi ro điều tra chống lẩn tránh thuế trên diện rộng.
  • Trong bối cảnh quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ ngày càng đi vào chiều sâu, thương mại song phương không chỉ mang lại lợi ích kinh tế to lớn mà còn đặt ra những thách thức pháp lý phức tạp. Thực tiễn điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp của Hoa Kỳ trong những năm qua cho thấy một xu hướng rõ rệt: sự gia tăng về tần suất, sự mở rộng về đối tượng và sự siết chặt về các quy định kỹ thuật. Việc chưa được công nhận quy chế kinh tế thị trường, cùng với các cáo buộc mới về định giá thấp tiền tệ hay trợ cấp xuyên quốc gia, đã tạo ra một "ma trận" rào cản đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Như vậy, Qua phân tích thực trạng và đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế từ Trung Quốc, Ấn Độ, có thể khẳng định rằng công tác ứng phó không còn là nhiệm vụ riêng lẻ của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Đây là cuộc chiến pháp lý đòi hỏi sự gắn kết hữu cơ giữa "ba nhà": Nhà nước đóng vai trò kiến tạo hành lang pháp lý và vận động ngoại giao; Hiệp hội đóng vai trò kết nối, dẫn dắt và Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp thực thi, minh bạch hóa hệ thống quản trị./.

Tài liệu tham khảo

  1. Cục Phòng vệ thương mại (2020), Báo cáo Phòng vệ thương mại 2020
  2.  Cục Phòng vệ thương mại (2021), Báo cáo Phòng vệ thương mại 2021
  3.  Cục Phòng vệ thương mại (2022), Báo cáo Phòng vệ thương mại 2022
  4.  Cục Phòng vệ thương mại (2023), Báo cáo Phòng vệ thương mại 2023
  5. Luật Quản lý Ngoại thương.
  6. Chính phủ Việt Nam. Nghị định số 86/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại, Hà Nội.
  7. Cục Phòng vệ Thương mại. (2022). Tổng hợp các vụ việc phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Hà Nội.
  8. Bùi, T. L. (2022). Luật Thương mại quốc tế. NXB Đại học Luật Hà Nội.
  9.  CIEM. (2022). Đánh giá tác động chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đến năng lực cạnh tranh và tuân thủ cam kết WTO. Báo cáo nội bộ, Hà Nội.
  10. Website Cục Phòng vệ thương mại: https://pvtm.gov.vn/
  11.  Website Cơ quan phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ: https://access.trade.gov/login.aspx
  12. Asian Development Bank. (2022). Trade facilitation and regional integration in Asia. Manila: ADB.
  13.  Blonigen, B. A., & Prusa, T. J. (2016). Dumping and antidumping duties. In G. Gopinath, E. Helpman, & K. Rogoff (Eds.), Handbook of International Economics (Vol. 4, pp. 107–159). Elsevier.
  14. Bown, C. P. (2020). The US–China trade war and its global impacts. Washington, DC: Peterson Institute for International Economics
  15. Hoekman, B., & Kostecki, M. (2009). The political economy of the world trading system. Oxford: Oxford University Press.
  16. OECD. (2021). Global value chains and trade policy. Paris: OECD Publishing.
  17. Prusa, T. J., & Skeath, S. (2002). The economic and strategic motives for antidumping filings. Weltwirtschaftliches Archiv, 138(3), 389–413.
  18. U.S. Department of Commerce. (2021a). Utility scale wind towers from India, Malaysia, and Spain: Final affirmative determination of sales at less than fair value. Washington, DC: DOC.
  19. U.S. Department of Commerce. (2021b). Utility scale wind towers from India: Final affirmative countervailing duty determination. Washington, DC: DOC.
  20. U.S. Department of Commerce. (2022). Raw honey from Argentina, Brazil, India, Ukraine, and Vietnam: Final determination of sales at less than fair value.Washington, DC: DOC
  21. U.S. International Trade Commission. (2022). Raw honey from Argentina, Brazil, India, Ukraine, and Vietnam (Investigation Nos. 701-TA-660–661 and 731-TA-1555–1557). Washington, DC: USITC.
  22. World Bank. (2020). Global trade and value chains in a changing world. Washington, DC: World Bank.
  23. World Trade Organization. (1994a). Agreement on Implementation of Article VI of the General Agreement on Tariffs and Trade 1994 (Anti-Dumping Agreement). Geneva: WTO.
  24. World Trade Organization. (1994b). Agreement on Subsidies and Countervailing Measures. Geneva: WTO.
  25. World Trade Organization. (2023). Anti-dumping and countervailing measures: Reports and statistics. Geneva: WTO.
  26. Gao, H. (2021). China’s Approach to Trade Remedies. Journal of International Economic Law, 24(1), 55–78. https://doi.org/10.1093/jiel/jgab006
  27. UNCTAD. (2021). Guidelines for Designing Trade-compliant Subsidy Measures. United Nations Publications.
  28. USTR. (2023). Foreign Trade Barriers Report – Vietnam. Office of the United States Trade Representative.
  29. WTO. (2022). Subsidies and Countervailing Measures: Annual Report. https://www.wto.org/english/tratop_e/scm_e/scm_e.htm

     30. WTO. (2023). Notification of Subsidies and Transparency in Policy-making. Geneva: WTO Publications.


[1] Thời điểm Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực

[2] Năm Tổng thống Donald Trump nhậm chức

Tin tức khác